20/04/2021 11:17
363

Những điểm mới của Thông tư số 85/2020/TT-BCA ngày 03/8/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an

        Ngày 03/8/2020, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành thông tư số 85/2020/TT-BCA quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân (Thông tư số 85/2020/TT-BCA) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/9/2020 thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BCA ngày 04/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an.

        Thông tư số 85/2020/TT-BCA gồm 07 Chương 21 Điều, bổ sung thêm một điều do tách nội dung Điều 9 trong Thông tư số 10/2014/TT-BCA. Thông tư số 85/2020/TT-BCA có những điểm mới được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các quy định của Luật Tố cáo năm 2018, Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25/02/2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong CAND.

        1. Những điểm mới trong phần quy định chung (Chương I)

        - Bỏ quy định áp dụng tố cáo đối với tố cáo của cơ quan, tổ chức vì theo quy định của Luật Tố cáo chỉ có cá nhân mới là chủ thể thực hiện quyền tố cáo.

        2. Những điểm mới trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin tố cáo (Chương II)

        - Thông tư số 85/2020/TT-BCA rút ngắn thời hạn kiểm tra, xác minh từ 10 ngày làm việc xuống còn 07 ngày làm việc; trong trường hợp xác minh ở nhiều địa phương, vùng sâu, vùng xa thì rút ngắn từ 15 ngày làm việc xuống còn 10 ngày làm việc để phù hợp với quy định tại khoản 01 Điều 24 Luật Tố cáo năm 2018.

        - Quy định việc lưu đơn, không xem xét, xử lý: Tố cáo về vụ việc đã được giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới; tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật; tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm. Nếu đã có văn bản trả lời cho người tố cáo biết lý do không thụ lý nhưng người tố cáo vẫn có đơn tố cáo thì lưu đơn, không xem xét xử lý.

        - Tại điểm d, khoản 1, Điều 6: Trường hợp người tố cáo không trực tiếp tố cáo mà ủy quyền cho người khác tố cáo hoặc có căn cứ xác định người tố cáo không đủ năng lực hành vi dân sự mà không có người đại diện theo quy định của pháp luật thì lưu đơn, không xử lý.

        - Quy định việc xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh, trật tự: Bổ sung tại điểm c, khoản 2, Điều 6: Cán bộ, chiến sĩ Công an không giữ chức vụ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi đang thi hành nhiệm vụ công vụ nếu tiếp nhận thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an ninh, trật tự có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay thuộc phạm vi nhiệm vụ của mình thì phải kịp thời báo cáo Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình biết và tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo, áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn, chấm dứt hành vi vi phạm, đồng thời lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật.

        - Quy định về xử lý tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam (khoản 4 Điều 6): Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, thi hành tạm giữ tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, cán bộ, chiến sĩ thuộc Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam cấp nào thì chuyển đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét, giải quyết.

        - Quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cán bộ, chiến sĩ vi phạm các quy định khác của Bộ Công an (khoản 6 Điều 6): Nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo thực hiện theo Điều 8 của Thông tư này, trừ những nội dung tố cáo thuộc lĩnh vực Bộ Công an có quy định khác. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, chiến sĩ được thực hiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 22/2019/NĐ-CP.

        3. Những điểm mới trong quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, chiến sĩ CAND trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ (Chương III)

        - Quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo (Điều 8): Bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Bộ trưởng Bộ Công an đối với những vụ việc phức tạp, gây dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngành Công an; Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới.

        - Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết tố cáo (Điều 10): Trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết tố cáo được tách thành một điều luật độc lập, không quy định ghép với quy định về hình thức tố cáo như Điều 9 Thông tư số 10/2014/TT-BCA. Quy định về rút tố cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Luật Tố cáo năm 2018.

        4. Những điểm mới trong quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết và quản lý công tác giải quyết tố cáo (Chương VI)

        - Trách nhiệm của Cơ quan Thanh tra và cơ quan chức năng khác (Điều 17): Bổ sung thêm 02 trách nhiệm gồm: Nắm tình hình việc chấp hành pháp luật liên quan đến công tác tiếp nhận, xử lý, giải quyết và quản lý công tác giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của thủ trưởng Công an cấp dưới; thực hiện công tác thanh tra đột xuất đối với đơn vị, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý của Thủ trưởng Công an cùng cấp theo yêu cầu của việc giải quyết tố cáo khi được giao. Bổ sung trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo của Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam đối với tố cáo trong lĩnh vực quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam. Cụ thể: theo khoản 5, Điều 17 Thông tư số 85/2020/TT-BCA quy định “Cơ quan điều tra, Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam, Cơ quan thi hành án hình sự các cấp trong Công an nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết tố cáo thuộc lĩnh vực của mình và báo cáo Thủ trưởng cùng cấp kết quả giải quyết tố cáo; đồng thời thông báo cho Cơ quan Thanh tra cùng cấp để giúp Thủ trưởng theo dõi kết quả giải quyết”.

        Trên đây là những điểm mới, những nội dung bổ sung của Thông tư số 85/2020/TT-BCA ngày 03/8/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/9/2020./.

Trần Đông